Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Từ vụ "đấu tố MC Phan Anh": Một xã hội đang "dậy thì"

Hôm nay facebook rầm rĩ vụ VTV "đấu tố" MC Phan Anh. Sự việc bắt đầu khi một người dùng với giọng điệu đầy kích động, và sử dụng chữ "đấu tố"- một từ nghe đã khiến người ta thấy ác cảm, đồng thời lại gắn chặt với "tội ác cộng sản che dấu" để đề cập vấn đề.
Những người ủng hộ MC này thì ra sức bài bác VTV chả hay ho gì, toàn bọn mặt thế nọ thế kia, anh ý là người dũng cảm, còn hơn bưng bít... Và thú vị nhất là cái page "giả khoa học" Ngụy biện còn đăng bài chỉ ra lố ngụy biện của các nhân vật "đấu tố" để bảo vệ "tự do, quyền được phát biểu". Một thằng bạn mình cũng ngả về phe này, kịch liệt bảo vệ Phan Anh và coi MC kia như một anh hùng bảo vệ quyền được nói. Một điểm nhận định chung là phe này rất đông đảo, tuy nhiên lý lẽ không có gì đặc sắc ngoài công kích đối thủ, vuốt đuôi anh "người của công chúng"-tức là người ăn diện và cầm micro, và kêu gào đấu tranh cho "tự do, dân chủ" (???)
Phe ngược thì có tiếng nói từ những người có quan điểm "cứng" hơn. Họ đã nhận ra được và tập trung vào bản chất vấn đề mà số đông kia mù quáng mà không thấy được: trách nhiệm khi share bài viết trên fb và thái độ thiếu tử tế và cố chấp của MC kia. Tất nhiên, họ cũng có lượng người ủng hộ, dù không lớn bằng.
Một số người khác thì có vẻ trung dung hơn, chả đúng chả sai, coi đó là chiêu trò PR hay dàn dựng của chương trình mà thôi.
Dù thế nào đi nữa, fb lại được một chủ đề mới để "sôi".

Còn nhớ mình đã tham gia mạng xã hội này khá lâu. Mục đích là để giữ liên lạc với người quen, cũ và hiện tại. Còn kết bạn mới thì không có nhu cầu lắm. Sau này thì thêm nhu cầu xem người khác thể hiện cái gì. Vì bắt đầu mình thấy rất lạ là thông tin và quan điểm trên fb ngày càng nhiều, và phát triển tới mức chóng mặt. Ban đầu nó đúng là chỉ để giữ liên lạc. Sau đó thêm là để khoe khoang, và sinh ra thuật ngữ "check-in" và "sống ảo". Từ "selfie" được cho thêm vào từ điển cũng là nhờ sự trợ giúp đắc lực từ mạng xã hội. Ngoài ra nó trở thành nơi mua bán đủ loại mặt hàng, quảng cáo cho cửa hàng, bán hàng qua mạng...Sau đó nó có thêm chức năng như một tờ báo, mọi tin tức, hình ảnh hay ho, ảnh chế, clip hot... được phát tán chóng mặt. Các diễn đàn, trang web kiểu otofun, beat, voz hay cả haivl nếu còn tồn tại... sẽ đều không còn đất sống. Gần đây mạng xã hội có một chức năng mới, rất quan trọng. Đó là môi trường thể hiện quan điểm, công cụ của "nền dân chủ mới". Xuất hiện hàng loạt hot facebooker không phải vì họ là người nổi tiếng, k phải vì có ảnh, clip hay ho giải trí... mà là thi thoảng họ có những stt thể hiện quan điểm một cách thú vị. Những trang của Nguyen Quang, Chung Nguyen, Huỳnh Phước Sang, Mai Duong, Hung Ngo,... trở thành những nơi người ta "hóng" mỗi khi có "biến". Song song với đó là sự thay đổi mối quan tâm của "cộng đồng mạng". Còn nhớ cuối năm trước khi tra cứu mối quan tâm của người dùng mạng Việt Nam, người ta bật cười vì toàn là phim với bài hát. Thì trong năm nay hẳn những vụ kiểu như "cá chết" sẽ chắc chắn có trong danh sách. Sự biến chuyển này thể hiện rất rõ trong những stt hay share của những người bạn mình. Giờ đây không khó để bắt gặp một đứa tự viết thể hiện quan điểm hoặc share một bài viết, like một phong trào "dân chủ" nào đó. Có một điều chắc chắn đã mãi mãi thay đổi: facebook không còn đơn thuần là nơi giao lưu, nơi giải trí nữa.

Tại sao facebook lại có "quyền năng" to lớn như vậy?
Nghiện fb, phản ứng dữ dội từ "cộng đồng mạng".... là vô số thứ mà người ta không thể tưởng tượng ra khoảng chục năm trước đây. Facebook là một công cụ ma thuật, theo đúng nghĩa đen của nó. Nó vượt ra ngoài ranh giới của công cụ truyền tin, như ti vi, đài, báo..., ngoài cả ranh giới của một phương tiện liên lạc, như điện thoại, gọi video, công cụ chat... Thành công của fb nằm ở 2 điểm:
- Một là sự ẩn danh
- Hai là "sự quan tâm ảo" nó cung cấp đến người dùng
Chả có ai tự nhiên ra giữa những người lạ tự nói suy nghĩ của mình, hoặc khoe ảnh con cái, gia đình, thậm chí ảnh xấu trong lúc chơi đùa với bạn bè. Nhưng họ lại sẵn sàng làm như vậy trên fb. Tại sao vậy? Giữa một đám đông, tiếng nói của anh sẽ biến mất trong vô vàn lời nói, hình ảnh anh khoe mà không có ai quan tâm thì anh cũng đành cất mang về trong xấu hổ, nhận xét của anh chả có mấy ai nghe. Thế nhưng tất cả trên fb được lưu lại, ở "tường nhà" của anh. Không có cái gì bị biến mất, vì thế mọi quan tâm nhỏ nhất được cộng dồn, trở thành "sự quan tâm ảo". Đồng thời anh là một người ẩn danh, xa lạ nên có xấu, có sai, có bị chê cũng chả lấy gì làm bẽ mặt lắm. Tức là fb đã làm tăng lên bội lần sự quan tâm và giảm đi bội lần sự chê bai đối với người dùng, đúng như việc nó chỉ có nút Thích mà không có nút Không thích. FB là một tấm gương ma quái nịnh bợ người soi.

Sự dậy thì của xã hội liên quan gì ở đây?
Có 2 đối tượng bị ghét trên mạng xã hội. Một là trẻ trâu. Hai là các mẹ bỉm sữa. Vì sự hung hãn, đông đảo là ngu dốt của họ. Thế nhưng, họ chả qua là những ví dụ cho sự tận cùng "điên loạn" của "cộng đồng mạng". Liên kết rộng rãi tạo số đông cực lớn là một ưu thế vượt trội của fb. Mà "chân lý thuộc về số đông"-tư tưởng kỳ quặc này thấm vào máu của nhiều người. Đặc biệt có những vấn đề chả đúng sai gì thì số đông ắt đúng.
Nói đến dậy thì ở đây là nói về 3 điểm:
- Sự thiếu trưởng thành trong mối quan tâm: Đây chính là điều đã nói ở trên. Ở thời điểm này, sự quan tâm đang chuyển hướng từ giải trí sang chính trị, tranh luận... tuy nhiên mới ở bước đầu. Nó thể hiện ở các phong trào, các đợt "sôi" của mạng xã hội. Người dùng mạng giờ chưa đủ trưởng thành để lựa chọn vấn đề quan tâm và quan tâm đúng mức, mà chỉ dừng lại ở nhu cầu phát biểu vài ý kiến về chủ đề đang hot. Tức là chỉ hóng xem có gì hot rồi nhảy vào anh thể hiện quan điểm, chứ không biết sàng lọc cái gì đáng quan tâm, cái gì không. Ví dụ điển hình là sự quan tâm nhảm nhí về bún chả hay chuyện Obama nói về Sơn Tùng... hơn là chuyện kinh tế hay cấm vận vũ khí...
- Sự thiếu trưởng thành trong quan điểm-định kiến: Điều buồn cười ở thời điểm này là mỗi chủ đề "sôi lên" lại có một luồng quan điểm mang tính định kiến, đám đông và lẻ tẻ những ý kiến ngược như trên. Tức là thật ra người dùng không có quan điểm riêng. Họ học lỏm, nghe theo các phe rồi áp vào mình để chọn phe nào. Sự yếu kém về mối quan tâm và quan điểm (có lẽ cả yếu kém về trình độ) làm cho chủ đề "sôi" rất hạn chế. Kiểu: Anh Đinh La Thăng mẫn cán, bọn y bác sĩ hoạch họe hay làm chết người, bọn tiến sĩ kỹ sư đều là bằng cấp dởm, bọn con ông cháu cha kiểu gì chả lên chức, chế độ này là độc tài...
- Sự thiếu trưởng thành trong cách thể hiện quan điểm: Hùa theo đám đông, định kiến, ngụy biện... gặp đầy rẫy trong mỗi stt hay cmt "quan điểm". Điều non dại nhất và tồi tệ nhất là không có nền tảng nào để tranh luận tiến bộ nảy nở, không lý luận, không phương pháp tranh luận, nguyên tắc nêu quan điểm... Tất cả chỉ là tôi phát biểu ý kiến, cãi nhau um lên và không đưa ra kết quả gì, cả hai bên tự âm thầm khinh thường người kia và tự đắc mình thắng vì "ai cũng nghĩ thế" hoặc "cái loại ngu làm sao nghĩ được như mình".

Tóm lại, facebook, với khả năng lan truyền nhanh chóng thông tin, cộng với ma thuật nịnh bợ người dùng, đang dần được sử dụng như một nơi để người dùng thể hiện quan điểm và môi trường để người ta tranh luận. Thế nhưng, người thể hiện quan điểm trên facebook hiện nay còn chưa trưởng thành ở nhiều điểm: chưa biết lựa chọn vấn đề nào đáng quan tâm, còn nặng định kiến và chưa có quan điểm của riêng mình với cái nhìn đa chiều, kỹ năng tranh luận kém. Kết luận: quan điểm hay tranh luận trên facebook chỉ là để thỏa mãn cái tôi, và chả giải quyết vấn đề gì thực tế, thậm chí còn gây hại vì sự ngu dốt của "cộng đồng mạng". Một "nền dân chủ" kiểu này chỉ tốn thời gian công sức, của cải của xã hội.

Tất nhiên, có "dậy thì" thì mới có "trưởng thành".

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Con đường phân bổ lao động xã hội

Tại sao đất nước có hàng nghìn tiến sĩ mà đóng góp của họ lại mờ nhạt? Tại sao du học sinh tài năng lại không muốn trở về? Tại sao hàng triệu sinh viên, thạc sĩ vẫn thất nghiệp? Tại sao học sinh lại không thích học lịch sử? Tại sao học hành là chìa khóa thoát khỏi đói nghèo mà những địa phương khó khăn đã gửi con em họ đi học bao nhiêu năm mà nghèo vẫn hoàn nghèo? Hay nói rộng hơn, tại sao người Việt tự hào thông minh khéo léo mà bao nhiêu năm thoát khỏi chiến tranh vẫn loay hoay thoát nghèo, trong khi người Nhật, người Israel trỗi dậy nhanh chóng sau khi ổn định đất nước?

1. Những câu trả lời
Tại sao nhiều tiến sĩ mà đóng góp của họ mờ nhạt? Đất nước có nhiều tiến sĩ nhưng là tiến sĩ giấy => vậy sao lại có tiến sĩ giấy? Do tâm lý nặng bằng cấp của xã hội.
Tại sao du học sinh tài năng không muốn trở về? Vì đãi ngộ, chính sách nước ta còn chưa tốt. Chưa kể một số ngành cơ bản như Toán học, Vật lý ở ta không có đất để nghiên cứu.
Tại sao hàng triệu sinh viên, thạc sĩ thất nghiệp? Vì định hướng nghề nghiệp không tốt, tâm lý chuộng bằng cấp mà không theo nhu cầu xã hội.
Tại sao học sinh không thích học lịch sử? Phương pháp dạy và học còn nhàm chán nặng ghi nhớ, kiến thức lịch sử nặng chính trị không hấp dẫn, tương lai nghề nghiệp không tốt.
Tại sao những địa phương khó khăn mãi đói nghèo? Vì những người con từ đó ra đi không trở về phục vụ quê hương, có về cũng không biết làm gì vì thiếu môi trường không phát huy hết khả năng.
Tại sao ta nghèo đói lâu mà nước khác phục hồi nhanh? Tại vì ta bị chiến tranh tàn phá nặng nề, do nền tảng kém phát triển từ trước chiến tranh, do ta mắc những sai lầm thời kỳ đầu, do điều kiện thế giới hiện tại nhiều cạnh tranh..

Những câu trả lời đó chỉ trả lời những nguyên nhân trực tiếp, những lý do hoặc khách quan hoặc thuộc về quá khứ. Tóm lại lý do đưa ra đều rơi vào ngõ cụt, do đó cả xã hội chỉ biết kêu khó, chửi nhau nhặng lên mà không thể tìm ra cách giải quyết hiệu quả.
Vậy nguyên nhân gốc rễ, nguyên nhân chung cho hàng loạt vấn đề trên là gì? Đó là con đường phân bổ lao động xã hội.

2. Tư duy "người tài" và tư duy "cách sử dụng"
"Cách sử dụng người tài" là một cách nói ưa thích và phổ biến, những tư duy này ăn sâu trong đầu những con người trong xã hội ta. Và có những tai hại từ những lối tư duy này.

Thứ nhất, nói về tư duy "người tài". Thế nào là người tài? Mà chỉ sử dụng người tài thôi còn người không tài thì mặc kệ à? Mỗi người đều có khả năng và giá trị riêng đối với xã hội, tài năng cũng có nhiều loại như không thể nói con cá ngu vì không biết leo cây. 
Tư duy này gây ra những hậu quả:
  • Phân tầng xã hội tạo tâm lý kỳ thị lẫn nhau: người tưởng mình tài thì quá ảo tưởng về vai trò của mình trong xã hội kiểu giáo sư kinh tế nói về xây cầu, người mẫu phê bình cách tiêm vắc xin, và người "tài" khinh thường những nghề thấp kém, người dân lao động thì ghét "bọn bằng cấp" và "bọn giàu".
  • Khó đánh giá thế nào là tài nên ngộ nhận vai trò của bằng cấp hơn là khả năng làm việc thực sự gây nên thừa thầy thiếu thợ.
  • Tạo nghịch lý người tài mà không sử dụng: những người "rất tài" nghiên cứu những ngành không tạo ra sự giàu có thấy ngay được như triết học, khoa học cơ bản toán lý hóa, thiên văn học, ngôn ngữ học, phê bình văn học, khảo cổ học,... không được sử dụng hoặc đãi ngộ cầm chừng, nên tạo ra những kết quả không nổi bật, liền bị nghi ngờ tiến sĩ giấy, sống trong túng thiếu vật chất và sự tôn trọng của xã hội. Hậu quả là học sinh không muốn học những ngành này, còn những người đã dấn thân đành ở nước ngoài nếu không muốn bị sống lay lắt thế kia.
Kết luận: Không nên có tư duy chia người tài hay người không tài mà nên chia khả năng con người theo lĩnh vực. Một tiến sĩ không nên được coi là một người tài, mà nên coi là chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Và cần khẳng định rằng: mọi người không những đều có khả năng đóng góp cho xã hội, mà còn có khả năng đóng góp trong nhiều lĩnh vực.

Thứ hai, nói về tư duy "cách sử dụng"
Tư duy này thể hiện tầm nhìn hạn chế, chỉ biết sử dụng mà không cần quan tâm thứ đó ở đâu mà có, có những cái gì, thừa thiếu thế nào. Đây là một cách làm việc thụ động, dẫn đến khi có vấn đề thì sẽ đổ tội cho hoàn cảnh và không thể giải quyết một cách hợp lý.
Ví dụ có người cho rằng Việt Nam không thể phát triển công nghiệp công nghệ cao vì là nước đi sau và các trường đại học còn yếu. Hoặc khi thừa một đống cử nhân kế toán, người ta đổ cho bão hòa công việc này. Những lúc như thế, trách nhiệm đổ lên đầu cơ quan nhà nước có nhiệm vụ lên kế hoạch, điều tiết bằng mệnh lệnh hành chính và những sự xin - cho.
Rõ ràng cách điều tiết hành chính và ngắn hạn này không ổn. Cái để giải quyết các vấn đề là những chiến lược dài hạn, và sau đó là những con đường, cách thức để xã hội tự vận hành, tự điều tiết để có thành công chiến lược đó. 

3. Tạm kết
Tóm lại, bài viết này chưa chỉ ra một con đường cụ thể như thế nào, có lẽ mình sẽ tìm hiểu và viết thêm trong tương lai. Nhưng có một điều chắc chắn và cần thiết để sử dụng hợp lý con người trong xã hội, đó là cần có những con đường phân bố lao động, được điều tiết một cách hoàn toàn tự động, dựa trên những nguyên tắc cơ bản. Ví dụ điều tiết theo thị trường lao động, dựa trên nguyên tắc công bằng xã hội, không phân biệt nhà nước hay tư nhân, đãi ngộ theo năng lực làm việc, mỗi người đều có vai trò của mình đóng góp cho xã hội, và có chiến lược dài hạn đào tạo phát triển con người.

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Về xe buýt Hà Nội

Ở cái thành phố này, tắc đường đã trở thành một bệnh kinh niên không biết bao năm mà kể, có khác nhau là lúc nặng lúc nhẹ mà thôi. Xe buýt được đầu tư biết bao tiền của, nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề. Trong khi đó, gần đây người ta còn chỉ ra người dân ngày càng ít đi xe buýt, vậy lý do ở đâu?
1. Dúi vào tay người dân cái họ chưa chắc muốn
Phát triển hệ thống giao thông công cộng-giải pháp được đặt ra đã hàng chục năm nay. Với cái lý rằng 1 cái xe buýt thay thế cho 70 cái xe máy, vậy chiếm chỗ lòng đường sẽ ít đi. Rồi bớt chỗ gửi xe, bảo vệ môi trường, giảm tai nạn giao thông... Vì những lợi ích ấy, Nhà nước lao vào bỏ tiền của trợ giá cho xe buýt, để làm xe buýt trở thành phương tiện rẻ nhất. 
Tất nhiên cũng phải kể đến những chính sách phi lý để "ép" người dân đến với phương tiện công cộng như kiểu cấm đăng ký mới phương tiện cá nhân, hạn chế phương tiện cá nhân trên một số tuyến đường.... Cách làm ấy, tư duy ấy là sản phẩm của thời kỳ bao cấp 30 năm trước. Đó là tư duy nghĩ hộ, làm hộ. Người quản lý tạo ra một sản phẩm mà mình cho là tốt, sau đó hướng, thậm chí ép buộc người dân sử dụng. Kiểu như dọn sẵn một cái hộp mềm mịn ấm áp cho con mèo rồi bắt nó nhốt lại bắt ở trong cái hộp ấy. 
Nhưng những nhà quản lý không biết rằng đó là dúi vào tay người dân cái mà chưa chắc họ muốn, rồi nếu họ không nhận thì ép buộc, đổ tại dân trí thấp, ý thức người dân chưa cao... Sự bắt buộc, sự đổ tội cho dân ấy là hành động đáng lên án. Tại sao? Vì đó là thái độ không chịu nhận sai về mình, nhất là ở vị trí người ra chính sách và người sử dụng ngân sách. Đổ tại ý thức người dân chưa cao, tức là đổ cho người khác. Mà người khác ấy lại là đám đông, tức là chả phải riêng ai, nên sẽ chả có ai buồn phản biện. Tóm lại sự thất bại của chính sách, sự lãng phí của ngân sách sẽ chả có ai chịu trách nhiệm, do đó sự thất bại - lãng phí tiếp tục sẽ chẳng bao giờ chấm dứt vì chả có ai bị đốc vào đít phải làm việc cho ra kết quả tốt.
2. Thế người dân muốn cái gì, và làm sao để xe buýt được sử dụng hiệu quả?
Để hiệu quả hóa xe buýt, trước tiên cần phải xác định đối tượng phục vụ và nhu cầu của họ. Không thể nói là đối tượng càng nhiều càng tốt, đó là tư duy tham lam ngu ngốc; vì mỗi đối tượng có nhu cầu khác nhau vì vậy cách phục vụ cũng khác nhau. Đối tượng có thể mở rộng hoặc thu hẹp tùy giai đoạn, theo khả năng cụ thể và tín hiệu từ thị trường. Những người làm chính sách chả bao giờ đi xe buýt. Những nhà báo viết bài phản ánh cũng chưa chắc đi xe buýt. Hiện nay những người đi xe buýt phần lớn gồm người có thu nhập thấp-trung bình, học sinh sinh viên và số ít là người cao tuổi, chủ yếu vì lý do kinh tế, thứ đến là lý do an toàn. Những người này thì ít khi lên tiếng, hoặc có nói cũng chả ai nghe. Việc xác định đối tượng và nhu cầu của họ cần tiến hành định kỳ, thông qua việc điều tra xã hội, hẳn các trường kinh tế hoặc khoa học xã hội có những ngành kiểu thế này. Việc điều tra này có cần thiết công? Có, vì nó giống như việc các doanh nghiệp điều tra thị trường vậy, phải biết người mình phục vụ là ai và nhu cầu của họ là gì thì mới có thể đưa ra những sản phẩm mà họ thực sự cần, tất nhiên trong khả năng mình có thể cung cấp. Từ chính bản thân, mình có thể dự đoán nhu cầu sẽ kiểu một hình tháp có nhiều tầng, ở dưới là những nhu cầu cơ bản nhất, sau đó càng lên cao thì là các nhu cầu càng cao nhưng ít quan trọng hơn. Những nhu cầu đó có thể thế này: Xe chạy đúng giờ > có chỗ đứng đủ rộng trên xe > ít phải chuyển xe > ít phải đi bộ để tới bến xe buýt > thoải mái (rộng rãi, có ghế ngồi, xe ít xóc...).
Nhìn những nhu cầu trên, ta sẽ thấy vô lý và lãng phí thế nào khi đi đầu tư làm xe buýt 5 sao, đổi vé điện tử trong khi xe buýt thì thiếu, nên sáng ra học sinh sinh viên liên tục bị bỏ bến, bị nhồi nhét chật cứng trong sự bất lực của cả nhà xe và hành khách. Các em cần có xe buýt đến đúng giờ, và không bị bỏ bến, không bị nhồi nhét, hơn là một cái xe 5 sao ở tận đâu đấy, chạy lưa thưa tầm các em đã yên vị ở trường.
Việc thứ hai cần làm là thị trường hóa tối đa các công ty xe buýt và các tuyến xe buýt. Trợ giá, xin xỏ hành chính phức tạp mỗi khi lập tuyến, trong một tuyến chỉ có 1 công ty phục vụ là những hạn chế lớn. Trợ giá là cần thiết, nhưng phải có bằng chứng và giám sát chặt chẽ để tránh tham nhũng lãng phí, đồng thời trợ giá phù hợp để vẫn kích thích được doanh nghiệp phát triển. Có vẻ trợ giá xe buýt nên giống với bảo hiểm y tế. Việc lập tuyến mới theo điều tiết của thị trường là rất linh hoạt và phù hợp; các công ty tự điều tra nhu cầu để lập tuyến, tuy nhiên vẫn cần có điều hòa của nhà quản lý, để thống nhất giữa các công ty, và định hướng phát triển tới những vùng khó khăn ít lợi nhuận. Việc chỉ một công ty quản lý một tuyến làm cho cạnh tranh phục vụ trong tuyến không có. Ví dụ có hai công ty, thì người dân sẽ muốn đi xe đúng giờ hơn, thân thiện hơn, xe tốt hơn. Còn nếu chỉ một công ty thì người ta chả thể đổi tuyến khác để đi được nên đành chịu.
Thứ nữa là phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ xe buýt. Nâng cấp bến bãi, làn đường, an ninh trật tự, cách chi trả, ....nhằm hỗ trợ đắc lực để các hãng phục vụ tốt nhất nhu cầu khách hàng. Những đầu tư này có thể từ cả nhà nước, các hãng xe buýt và các bên thứ ba khác.
Cuối cùng mới là quảng cáo, truyền thông tích cực những sự thay đổi đã đạt được, để thu hút người dân, tạo ra trong họ sự so sánh lợi hại khi đi xe buýt và phương tiện cá nhân, rồi từ đó có lựa chọn phù hợp với bản thân.
3. Kết luận
Xuất phát từ nhu cầu của người dân là thay đổi cốt yếu để cải thiện hệ thống xe buýt. Hãy cứ làm tốt đi, rồi hãy lôi kéo, đừng ép buộc. Nếu thực sự hệ thống xe buýt tốt, đáp ứng được nhu cầu người dân mà lại rẻ hơn, sạch hơn, thì tất nhiên xe buýt sẽ phát triển một cách xứng đáng.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Nền y tế mới. Phần 1: Doanh nghiệp hóa hệ thống y tế.

Lời đầu:
Chuỗi bài viết này gồm 3 bài, nói về 3 mấu chốt mà tôi nghĩ có thể cải cách ngành y tế Việt Nam hiện nay. Đó là:
1. Doanh nghiệp hóa hệ thống y tế.
2. Chiến lược truyền thông thay đổi nhận thức về y tế của xã hội.
3. Xây dựng hệ thống thông tin y tế quốc gia.
Mỗi bài viết sẽ gồm 3 mục lớn:
1. Hiện trạng 
2. Mục tiêu 
3. Con đường đạt được mục tiêu.
Không có thiên đường nào chờ đợi chúng ta đi tìm, hãy xây thiên đường của chính mình bằng những gì đang có.
Phá một cái nhà thì dễ. Xây một cái nhà mới tinh đã khó hơn. Nhưng sửa một cái nhà mà mọi người không phải ra đường ở mới thực sự tài tình.
----
Phần 1: DOANH NGHIỆP HÓA HỆ THỐNG Y TẾ
1. Hiện trạng và vấn đề đặt ra
1.1 Mấu chốt cần sửa chữa là sự phân tuyến khám chữa bệnh.
1.2 Phân tuyến gây ra những hậu quả:
- Sự quá tải của tuyến trên.
- Sự yếu kém của tuyến dưới về cả nhân lực và trang bị, kỹ thuật.
- Sự không hài lòng của người bệnh vì bị hạn chế nơi khám chữa bệnh.
- Bảo hiểm y tế không phát huy được giá trị, thậm chí thành rào cản chống lại người bệnh.
1.3 Cơ chế tạo ra các hậu quả này như sau:
Người bệnh muốn có dịch vụ y tế tốt. Ngành y tế muốn cung ứng đủ dịch vụ y tế. Hai mong muốn này mâu thuẫn với nhau.

Người dân nghĩ: 
+ Sức khỏe tính mạng là vấn đề hệ trọng, phải chọn dịch vụ tốt.
+ Tuyến dưới thiếu chuyên môn, thiếu thiết bị. Tuyến trên mới có dịch vụ tốt.
=> Lên tuyến trên là tốt nhất.
Hậu quả: 
+ Tuyến trên quá tải
+ Tuyến dưới không có bệnh nhân nên không có vốn để nâng cao chuyên môn, kỹ thuật=>càng yếu

Ngành y tế tránh quá tải tuyến trên bằng cách:
+ Cách 1: Lập rào cản bằng cách phân tuyến Bảo hiểm y tế: chỉ bệnh nặng mới được lên tuyến trên (nặng nhẹ do bác sĩ phân chia, người dân luôn có tâm lý bệnh mình là nặng), nếu muốn vượt tuyến thì giảm chi trả BHYT, thậm chí tự túc.
Hậu quả:
- Người bệnh cảm thấy ngành y đang chống lại nhu cầu chính đáng của họ, gây khó dễ cho họ. 
- BHYT trở thành rào cản, gây ra chia rẽ giàu nghèo: có tiền thì tự túc để được dịch vụ tốt, không có tiền đành ngậm ngùi nhận "mấy loại thuốc lèo tèo" => Trừ các bệnh nặng chi trả lớn, người bệnh không muốn chi trả bằng BHYT (đến nỗi một bộ phận lớn sinh viên-trí thức trẻ của xã hội cho rằng BHYT là gánh nặng chứ nếu có bệnh thì sẽ tự túc).
+ Cách 2: Nâng cao  năng lực tuyến dưới bằng cách chi tiền mua trang thiết bị, cho bác sĩ tuyến dưới đi học hoặc mời bác sĩ tuyến trên về nâng cao tay nghề.
Rào cản của cách làm này:
- Bác sĩ tuyến trên không có lợi ích thiết thân từ việc nâng cao tay nghề cho tuyến dưới. Họ làm vì y đức, vì trách nhiệm. Quá tải nhưng có nghĩa là có nhiều bệnh nhân, thu nhập nhiều. Tuyến dưới tốt lên, bệnh nhân không lên nữa thì bớt thu nhập. Về phương diện tài chính, nâng cao tay nghề cho tuyến dưới tức là tự bớt đi thùng gạo của mình. Có nhiều người tâm huyết, y đức, nhưng không thể dựa trên sự tự giác đó để làm động lực.
- Bác sĩ tuyến dưới nếu không học được, áp dụng được kỹ thuật thì cũng vẫn chả sao , vì "nhiều yếu tố khách quan". Tức là tốt lên thì tốt, không tốt chả sao. Vậy sự lãng phí dễ xảy ra.
- Tiền là được cho, lại qua nhiều cấp nên dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí và quản lý thiếu hiệu quả.

Lời bàn: Chúng ta coi y tế là một dịch vụ, người bệnh là khách hàng, có 2 cách chi trả là BHYT và tự túc. Nhưng hiện nay khách hàng không được chọn mua thứ hàng mình cho là tốt, mà lại bị ép dùng sản phẩm mà người bán (ngành y tế) muốn cung cấp. Và cách ép lại là bằng BHYT, nên người dân cảm thấy ức chế và quay lưng lại với BHYT là có thể hiểu. Đó chẳng giống như phân phối hàng hóa thời bao cấp-cách làm mà xã hội ta đã muốn đổi mới từ lâu hay sao? Các biện pháp khắc phục của ngành y là đáng ghi nhận, song động lực thay đổi là không vững chắc, vì còn mang tính xin cho dễ nảy sinh tham nhũng lãng phí và dựa dẫm vào sự tự giác, trách nhiệm của bác sĩ tuyến trên.

2. Mục tiêu cải cách y tế
- Nhân dân được lựa chọn nơi cung cấp dịch vụ y tế mình cho là tốt, bằng phương thức mình muốn. Dịch vụ y tế được cung cấp theo vùng, nhân dân đỡ chi phí đi lại lên tuyến trung ương như trước.
- BHYT trở lại đúng vai trò của nó là cách thanh toán; người dân bỏ tiền đóng góp vào quỹ BHYT và được chi trả khi đau ốm.
- Các cơ sở y tế tự chịu trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả phát triển con người và máy móc, để cung cấp dịch vụ y tế tốt nhất thu hút người bệnh, tạo nguồn thu phát triển chính mình. Song họ vẫn có trách nhiệm và có liên hệ nhất định với địa phương.
3. Biện pháp đạt được mục tiêu
3.1 Xóa bỏ phân tuyến khám chữa bệnh, chuyển sang cung cấp dịch vụ y tế theo vùng
- Cách làm này chấm dứt việc tuyến trên tốt-tuyến dưới kém nên xóa bỏ việc tuyến trên quá tải, tuyến dưới yếu.
- Nhân dân được tự do lựa chọn dịch vụ y tế mình cho là tốt.
- Giảm bớt chi phí đi lại cho người bệnh, hạn chế các cấp cứu phải chuyển tuyến đường xa.
3.2 Doanh nghiệp hóa hệ thống y tế, theo mô hình kinh tế nhiều thành phần có quản lý của nhà nước. 
* Nhiều thành phần gồm có: các tập đoàn y tế nhà nước và tư nhân. Mỗi tập đoàn có thể gồm các bệnh viện hạt nhân và các bệnh viện chi nhánh, các phòng khám, hệ thống bác sĩ gia đình. Mỗi bệnh viện, phòng khám, bác sĩ gia đình có tính tự chủ nhất định, nhưng tất cả liên quan và chịu sự điều phối chung dưới một thương hiệu. Các thành phần có thể được mua đi bán lại.
* Quản lý của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước sẽ có trách nhiệm phát triển y tế ở các vùng sâu vùng xa. Các bệnh viện tự chủ nhưng vẫn phải có trách nhiệm với địa phương về các vấn đề y tế.

Lợi ích của việc làm này là:
- Xóa bỏ tình trạng xin-cho, tránh tham nhũng lãng phí do các tập đoàn y tế tự chủ về vốn.
- Động lực là phải phát triển nếu không muốn bị đào thải. Các tập đoàn sẽ cần tính toán kỹ trang bị máy móc ra sao, nâng cao tay nghề nhân viên thế nào, mở thêm chi nhánh ở đâu sao cho hiệu quả nhất; máy móc kém, nhân viên tay nghề yếu, thái độ không tốt sẽ bị sa thải. Vậy nguồn vốn, trang bị và con người sẽ được phát triển sao cho hợp lý nhất. Ví dụ một bệnh viện lớn cung cấp dịch vụ tốt, quá tải sẽ mua lại một bệnh viện nhỏ khác hoặc mở thêm cơ sở 2 ở vùng có nhiều người bệnh, lấy vốn và con người ở cơ sở cũ để phát triển chi nhánh mới đó. Các bác sĩ có tay nghề cao sẽ có động lực sang cơ sở mới vì vẫn có chỗ dựa về vốn và chuyên môn, lại bớt quá tải, lên chức lên lương. Người bệnh cũng vui vẻ sang cơ sở mới vì vẫn được đảm bảo thương hiệu, lại rộng rãi và máy móc mới hơn. Bằng chứng thực tế của ví dụ này là sự thành công của các cơ sở 2, cơ sở 3 của các bệnh viện lớn hiện nay. Vậy nhân dân có dịch vụ y tế tốt, và lại được lựa chọn cơ sở phù hợp với mình.
- Y tế các vùng sâu vùng xa, các vấn đề y tế mà y tế địa phương hiện đang nắm giữ vẫn được đảm bảo đầu tư bằng ngân sách nhà nước.
- Cách làm này còn tạo ra một thế hệ quản lý y tế mới, là các nhà kinh tế chứ không phải các nhà chuyên môn. Tránh việc sử dụng các chuyên gia y tế làm quản lý, vừa lãng phí chuyên gia mà chưa chắc quản lý đã hiệu quả.
3.3 Trả lại vai trò của BHYT
- Khi BHYT không còn là rào cản để người bệnh có dịch vụ y tế tốt, người bệnh sẽ quay lại nhìn nhận BHYT là một phương thức chi trả văn minh và bền vững. Người dân sẽ đóng góp vào quỹ, và quỹ sẽ giúp họ chi trả nếu có ốm đau. Như kiểu đút tiền ít một vào lợn đất rồi nếu cần sẽ đập lợn để tiêu, mà hơn nữa tiền ấy lại không nằm im trong bụng lợn mà lại được dùng để giúp đỡ người khác. Ưu việt vậy ai chả muốn tham gia BHYT.
- BHYT phải được chấp nhận rộng rãi ở tất cả các cơ sở. Mức chi trả tùy theo mức đóng góp, trên cơ sở một mức sàn. Ví dụ: anh A mua BHYT, nhưng trả thêm tiền để có loại premium. Còn anh B chỉ mua loại basic. Đến khi chi trả cả 2 anh đều được đảm bảo dịch vụ tối thiểu, nhưng anh A sẽ được thêm 1 số dịch vụ khác. Như vậy vừa tăng nguồn thu cho quỹ BHYT mà vẫn đảm bảo được công bằng.
- Đối với các hộ nghèo, đối tượng chính sách, BHYT sẽ được hỗ trợ tùy mức.

------------------------------
Lời kết: 30 năm Đổi mới, đất nước ta đã thay da đổi thịt trên nhiều ngành. Ngành y tế đã, đang và sẽ cố gắng cung cấp các dịch vụ tốt nhất để chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhưng vẫn còn trong cơ chế những cũ kỹ, nặng nề tư tưởng xin cho, phân phối cần loại bỏ. Một cơ chế mới rộng mở, tự do, kích thích sự phát triển sẽ mở ra tương lai mới cho y tế nước nhà.

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

Vài dòng đầu tiên

Cũng đã lớn rồi.
Bắt đầu có góc nhìn riêng về cuộc sống.
Blog này gồm 2 phần:
- Những bàn luận về các vấn đề xã hội cần quan tâm.
- Những ý tưởng để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.