Tại sao đất nước có hàng nghìn tiến sĩ mà đóng góp của họ lại mờ nhạt? Tại sao du học sinh tài năng lại không muốn trở về? Tại sao hàng triệu sinh viên, thạc sĩ vẫn thất nghiệp? Tại sao học sinh lại không thích học lịch sử? Tại sao học hành là chìa khóa thoát khỏi đói nghèo mà những địa phương khó khăn đã gửi con em họ đi học bao nhiêu năm mà nghèo vẫn hoàn nghèo? Hay nói rộng hơn, tại sao người Việt tự hào thông minh khéo léo mà bao nhiêu năm thoát khỏi chiến tranh vẫn loay hoay thoát nghèo, trong khi người Nhật, người Israel trỗi dậy nhanh chóng sau khi ổn định đất nước?
1. Những câu trả lời
Tại sao nhiều tiến sĩ mà đóng góp của họ mờ nhạt? Đất nước có nhiều tiến sĩ nhưng là tiến sĩ giấy => vậy sao lại có tiến sĩ giấy? Do tâm lý nặng bằng cấp của xã hội.
Tại sao du học sinh tài năng không muốn trở về? Vì đãi ngộ, chính sách nước ta còn chưa tốt. Chưa kể một số ngành cơ bản như Toán học, Vật lý ở ta không có đất để nghiên cứu.
Tại sao hàng triệu sinh viên, thạc sĩ thất nghiệp? Vì định hướng nghề nghiệp không tốt, tâm lý chuộng bằng cấp mà không theo nhu cầu xã hội.
Tại sao học sinh không thích học lịch sử? Phương pháp dạy và học còn nhàm chán nặng ghi nhớ, kiến thức lịch sử nặng chính trị không hấp dẫn, tương lai nghề nghiệp không tốt.
Tại sao những địa phương khó khăn mãi đói nghèo? Vì những người con từ đó ra đi không trở về phục vụ quê hương, có về cũng không biết làm gì vì thiếu môi trường không phát huy hết khả năng.
Tại sao ta nghèo đói lâu mà nước khác phục hồi nhanh? Tại vì ta bị chiến tranh tàn phá nặng nề, do nền tảng kém phát triển từ trước chiến tranh, do ta mắc những sai lầm thời kỳ đầu, do điều kiện thế giới hiện tại nhiều cạnh tranh..
Những câu trả lời đó chỉ trả lời những nguyên nhân trực tiếp, những lý do hoặc khách quan hoặc thuộc về quá khứ. Tóm lại lý do đưa ra đều rơi vào ngõ cụt, do đó cả xã hội chỉ biết kêu khó, chửi nhau nhặng lên mà không thể tìm ra cách giải quyết hiệu quả.
Vậy nguyên nhân gốc rễ, nguyên nhân chung cho hàng loạt vấn đề trên là gì? Đó là con đường phân bổ lao động xã hội.
2. Tư duy "người tài" và tư duy "cách sử dụng"
"Cách sử dụng người tài" là một cách nói ưa thích và phổ biến, những tư duy này ăn sâu trong đầu những con người trong xã hội ta. Và có những tai hại từ những lối tư duy này.
Thứ nhất, nói về tư duy "người tài". Thế nào là người tài? Mà chỉ sử dụng người tài thôi còn người không tài thì mặc kệ à? Mỗi người đều có khả năng và giá trị riêng đối với xã hội, tài năng cũng có nhiều loại như không thể nói con cá ngu vì không biết leo cây.
Tư duy này gây ra những hậu quả:
- Phân tầng xã hội tạo tâm lý kỳ thị lẫn nhau: người tưởng mình tài thì quá ảo tưởng về vai trò của mình trong xã hội kiểu giáo sư kinh tế nói về xây cầu, người mẫu phê bình cách tiêm vắc xin, và người "tài" khinh thường những nghề thấp kém, người dân lao động thì ghét "bọn bằng cấp" và "bọn giàu".
- Khó đánh giá thế nào là tài nên ngộ nhận vai trò của bằng cấp hơn là khả năng làm việc thực sự gây nên thừa thầy thiếu thợ.
- Tạo nghịch lý người tài mà không sử dụng: những người "rất tài" nghiên cứu những ngành không tạo ra sự giàu có thấy ngay được như triết học, khoa học cơ bản toán lý hóa, thiên văn học, ngôn ngữ học, phê bình văn học, khảo cổ học,... không được sử dụng hoặc đãi ngộ cầm chừng, nên tạo ra những kết quả không nổi bật, liền bị nghi ngờ tiến sĩ giấy, sống trong túng thiếu vật chất và sự tôn trọng của xã hội. Hậu quả là học sinh không muốn học những ngành này, còn những người đã dấn thân đành ở nước ngoài nếu không muốn bị sống lay lắt thế kia.
Kết luận: Không nên có tư duy chia người tài hay người không tài mà nên chia khả năng con người theo lĩnh vực. Một tiến sĩ không nên được coi là một người tài, mà nên coi là chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Và cần khẳng định rằng: mọi người không những đều có khả năng đóng góp cho xã hội, mà còn có khả năng đóng góp trong nhiều lĩnh vực.
Thứ hai, nói về tư duy "cách sử dụng"
Tư duy này thể hiện tầm nhìn hạn chế, chỉ biết sử dụng mà không cần quan tâm thứ đó ở đâu mà có, có những cái gì, thừa thiếu thế nào. Đây là một cách làm việc thụ động, dẫn đến khi có vấn đề thì sẽ đổ tội cho hoàn cảnh và không thể giải quyết một cách hợp lý.
Ví dụ có người cho rằng Việt Nam không thể phát triển công nghiệp công nghệ cao vì là nước đi sau và các trường đại học còn yếu. Hoặc khi thừa một đống cử nhân kế toán, người ta đổ cho bão hòa công việc này. Những lúc như thế, trách nhiệm đổ lên đầu cơ quan nhà nước có nhiệm vụ lên kế hoạch, điều tiết bằng mệnh lệnh hành chính và những sự xin - cho.
Rõ ràng cách điều tiết hành chính và ngắn hạn này không ổn. Cái để giải quyết các vấn đề là những chiến lược dài hạn, và sau đó là những con đường, cách thức để xã hội tự vận hành, tự điều tiết để có thành công chiến lược đó.
3. Tạm kết
Tóm lại, bài viết này chưa chỉ ra một con đường cụ thể như thế nào, có lẽ mình sẽ tìm hiểu và viết thêm trong tương lai. Nhưng có một điều chắc chắn và cần thiết để sử dụng hợp lý con người trong xã hội, đó là cần có những con đường phân bố lao động, được điều tiết một cách hoàn toàn tự động, dựa trên những nguyên tắc cơ bản. Ví dụ điều tiết theo thị trường lao động, dựa trên nguyên tắc công bằng xã hội, không phân biệt nhà nước hay tư nhân, đãi ngộ theo năng lực làm việc, mỗi người đều có vai trò của mình đóng góp cho xã hội, và có chiến lược dài hạn đào tạo phát triển con người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét